Social Icons

Pages

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Chỉ báo Đường trung bình động (Moving Average - MA)

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
Bài 15: Chỉ báo Đường trung bình động (Moving Average - MA)

1. Khái niệm: 

Đường trung bình động (MA) là thước đo khách quan về xu hướng thị trường qua dữ liệu giá và thời gian, thông thường được tính theo giá đóng cửa và có thể được điều chỉnh sử dụng theo giá cao nhất hoặc giá thấp nhất, hoặc giá trung bình hoặc giá đóng cửa gia quyền.

2. Khung thời gian sử dụng: 

Các đường MA ngắn hạn thường nhạy cảm, đôi khi giúp người phân tích nhận diện xu hướng sớm song cũng có lúc cho những cảnh báo giả. Các đường MA dài hạn hơn thì đáng tin cậy hơn song chỉ áp dụng cho xu hướng lớn.

Sử dụng đường trung bình động là một nửa chiều dài chu kỳ quan sát. Nếu chiều dài chu kỳ tình đỉnh đến đỉnh là 30 ngày thì sử dụng đường MA 15 ngày là hợp lý. Nếu khung thời gian 20 ngày thì nên sử dụng MA 10 ngày. Tuy nhiên đối với một số nhà giao dịch thì việc sử dụng MA 14 và MA 9 thường giúp tạo ra một số tín hiệu giao dịch tốt. Một số khác ưa thích sử dụng các MA theo dãy số Fibonacci như 5, 8, 13 và 21.

- Khung thời gian từ 20 đến 40 tuần: sử dụng MA 100 đến 200 ngày cho chu kỳ dài hạn.

- Khung thời gian từ 4 đến 13 tuần: sử dụng MA 20 đến 65 tuần cho chu kỳ trung hạn.

- Sử dụng MA 5 đến 20 cho chu kỳ ngắn hạn.
3. Phân loại và công thức tính:

Đường trung bình động có nhiều loại song có 3 loại thông dụng nhất là Đường trung bình động giản đơn (Simple Moving Average) và Đường trung bình động hàm mũ (Exponential Moving Average) và Đường trung bình động gia quyền (Weighted Moving Average).
a. Đường trung bình động giản đơn (SMA):

Đường trung bình động giản đơn (SMA) là loại trung bình động cơ bản nhất. Đường SMA 5 ngày được tính bằng cách lấy tổng giá trong 5 ngày đã qua rồi chia cho 5.
Ví dụ:
 
b. Đường trung bình động hàm mũ (EMA):

Công thức tính EMA: (giá hôm nay X EMA%) + [giá trị EMA hôm qua X (1-EMA%)] 

Trong đó EMA% = 2/(n + 1) với n là số ngày quan sát.

Ví dụ EMA% cho 5 ngày sẽ là 2/(5 +1) = 33.3%

Nếu tính lại bảng ở phía trên sẽ thấy rằng đường EMA thể hiện xu hướng mượt hơn.
 
50% thường được sử dụng cho EMA 3 ngày.

10% thường được sử dụng cho EMA 19 ngày.

1% thường được sử dụng cho EMA 199 ngày.

c. Đường trung bình động gia quyền (WMA):

Đường trung bình động gia quyền (WMA) kèm thêm độ nặng cho dữ liệu giá gần nhất. Độ nặng được tính bằng cách lấy số ngày đang quan sát chia cho tổng số ngày quan sát. Giá trị gia quyền được tính bằng cách nhân giá hôm nay cho độ nặng hôm nay. Trung bình động gia quyền được tính bằng cách cộng tất cả các giá trị gia quyền trong số ngày quan sát.
 
4. Tín hiệu giao dịch:

Khi sử dụng một đường trung bình động thì các tín hiệu giao dịch xuất hiện khi giá giao cắt với đường trung bình động đó.

- Vào trạng thái mua khi giá cắt lên trên đường MA từ phía dưới.
- Vào trạng thái bán khi giá cắt xuống dưới đường MA từ phía trên.

Khi sử dụng 2 đường trung bình động thì các tín hiệu giao dịch xuất hiện khi 2 đường trung bình động giao cắt nhau.

- Vào trạng thái mua khi đường MA nhanh (ngắn hạn hơn) cắt MA chậm (dài hạn hơn) từ phía dưới lên.
- Vào trạng thái bán (đảo ngược trạng thái) khi đường MA nhanh cắt MA chậm từ trên xuống.

Khi sử dụng 3 đường trung bình động: đường nhanh (ngắn hạn hơn), đường giữa và đường chậm (dài hạn hơn) thì các điểm vào trạng thái giao dịch được quyết định bởi đường trung bình động nằm giữa giao cắt đường trung bình động dài hạn hơn, trong khi đó các điểm thoát trạng thái được quyết định bởi đường trung bình động ngắn hạn hơn giao cắt với đường trung bình động nằm giữa.

- Vào trạng thái mua khi đường MA giữa cắt lên trên đường MA chậm từ phía dưới và MA nhanh nằm trên đường MA giữa. Đóng trạng thái mua khi MA nhanh cắt xuống dưới đường MA giữa từ phía trên.
 - Vào trạng thái bán khi MA giữa cắt xuống dưới MA chậm từ phía trên và MA nhanh nằm dưới MA giữa. Đóng trạng thái bán khi MA nhanh cắt lên trên MA giữa từ phía dưới.

Nguồn: http://vnexim.com.vn/forum/bai-viet/16463-PTKT-Bai-15-Chi-bao-Duong-trung-binh-dong-Moving-Average-MA-#ixzz3YlQo2YIY

Giới thiệu khái quát các chỉ báo Phân tích kỹ thuật

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
Bài14 : Giới thiệu khái quát các chỉ báo Phân tích kỹ thuật

1. Khái niệm chỉ báo kỹ thuật (Technical Indicator):

Chỉ báo kỹ thuật là kết quả tính toán dựa trên giá và/hoặc khối lượng giao dịch và kết quả đó được sử dụng để dự báo những thay đổi về giá.


Chỉ báo kỹ thuật có tên gọi như vậy để phân biệt với các chỉ báo liên quan đến vấn đề phân tích cơ bản như thu nhập, doanh thu, lợi nhuận, chỉ báo kinh tế… Các chỉ báo kỹ thuật được sử dụng chủ yếu bởi các nhà giao dịch ngắn hạn. Đối với nhà đầu tư dài hạn thì hầu hết các chỉ báo kỹ thuật ít có giá trị hơn. Lợi ích hiệu quả nhất của các chỉ báo kỹ thuật đối với nhà đầu tư dài hạn ở chỗ nó giúp xác định các điểm vào trạng thái và thoát trạng thái đối với thị trường chứng khoán khi phân tích xu thế dài hạn.


2. Phân loại chỉ báo kỹ thuật:



Chỉ báo kỹ thuật có thể được chia thành vài loại theo loại dữ liệu mà chỉ báo được tính toán: chỉ báo dựa trên giá, chỉ báo dựa trên khối lượng, chỉ báo tăng/giảm (Advance/Decline) dựa trên dữ liệu tăng/giảm và chỉ báo kết hợp dựa trên giá và khối lượng giao dịch hoặc giá và dữ liệu tăng/giảm. Cách phân loại cũng khá phổ biến là dựa trên sự ám chỉ hoặc loại tín hiệu mà chỉ báo tạo ra:



(1) Chỉ báo dẫn đường (Leading Technical Indicators) là chỉ báo báo hiệu khả năng đảo chiều của xu thế giá trong tương lai. Các chỉ báo dẫn đường thường là các chỉ báo kỹ thuật dựa trên khối lượng giao dịch.



(2) Chỉ báo theo sau (Lagging Technical Indicators) là chỉ báo đi theo sự thay đổi về xu hướng của giá vì thế còn được gọi là chỉ báo theo xu hướng (Trend-following Indicators). Các chỉ báo này gồm Stochastic, MACD …



(3) Chỉ báo thông tin (Informational Technical Indicators) là chỉ báo không dự đoán cũng không đi theo một xu hướng mà chỉ miêu tả thị trường, chỉ số hoặc công cụ tài chính. Các chỉ báo thông tin gồm những chỉ báo như ATR, VIX, ADX được sử dụng để đo sức mạnh của một xu hướng và xác định thị trường không rõ xu hướng (sideways) và một số chỉ báo khác được sử dụng để đo tính biến động.

Một cách phân loại phổ biến nhất như sau:

(1) Chỉ báo xu hướng (Trend Indicators) được dùng để xác định hướng đi và xu thế giá tương lai.

1. Moving Average (MA).
2. MACD.
3. TRIX
4. Parabolic SAR.
5. Directional Movement System
6. Commodity Channel Index (CCI)

(2) Chỉ báo xung lượng (Momentum Indicators) được dùng để xác định tốc độ thay đổi của giá.

1. Relative Strength Index (RSI).
2. Rate of Change (Price).
3. Momentum.
4. Stochastic.
5. Williams %R.

(3) Chỉ báo khối lượng giao dịch (Volume Indicators) được dùng để xác nhận sức mạnh xu thế.

1. Volume Oscillator.
2. On Balance Volume (OBV).
3. Chaikin Oscillator.
4. Money Flow Index.
5. Compare Range and Volume.

(4) Chỉ báo tính biến động (Volatility Indicators) được dùng để xét đoán sức mạnh của xu thế và các điểm phá vỡ (breakout).

1. Bollinger Bands.
2. Volatility.
3. Chaikin Volatility.
4. Volatility Ratio.
5. Average True Range (ATR).

Trong phạm vi này, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu khoảng 10 chỉ báo cơ bản như MAMACDParabolic SARRSIMomentum, Stochastic, William %R, Volume Oscillator, Bollinger Bands, ATR.
(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)

Nguồn: http://vnexim.com.vn/forum/bai-viet/16462-PTKT-Bai-14-Gioi-thieu-khai-quat-cac-chi-bao-Phan-tich-ky-thuat#ixzz3YlPqbrUS
 
Blogger Templates